Tên Thánh
Số lượng xem: 767
Tên Thánh (hoặc tên rửa tội hoặc Thánh bổn mạng) là tên của mỗi cá nhân chọn khi nhận nghi thức rửa tội (Thanh Tẩy) trong một số giáo hội Kitô giáo. Tập tục này bắt nguồn từ Pháp và Đức trong thời Trung Cổ.
 
 
Theo truyền thống của người Do Thái, người ta sẽ đặt tên cho trẻ sơ sinh trong nghi lễ Thánh hiến tại hội đường (và cắt bì đối với trẻ sơ sinh nam) vào ngày thứ tám sau khi sinh (Lc 01:59). Kitô giáo kế thừa hoặc dựa theo tập tục này để đặt tên mới khi một ai đó nhận phép rửa tội vì họ quan niệm rằng sau khi rửa tội thì sẽ trở thành một con người mới nên cần có tên mới.
Với Kitô giáo, chúng ta thấy có một sự tiến triển theo dòng lịch sử. Trước hết, ngay từ thế kỷ thứ III, Ông Dionysius thành Alexandria (khoảng năm 260) đã nhận thấy, có rất nhiều người cùng tên với tông đồ Gioan. Ông yêu mến vị tông đồ này và ước mong được yêu Chúa như Thánh Gioan. Ngoài ra ông cũng nhận thấy nhiều trẻ em được đặt tên như là Phêrô hoăc Phaolô để tôn vinh và bắt chước hai vị tông đồ vĩ đại này. Bên cạnh đó, vào thời Giáo hội Sơ khai người Kitô hữu có tục lệ lấy tên Thánh làm tên riêng.
Do vậy, măm 325, Công đồng Nicaea quyết định cấm tín hữu dùng tên các thần thánh không phải của Kitô giáo để đặt tên cho mình.
 
 
Đến thế kỷ thứ IV, Thánh Gioan Kim Khẩu (Gioan Kim Khẩu là Tổng giám mục thành Constantinopolis, ông nổi tiếng bởi tài hùng biện trong thuyết giáo và diễn thuyết) khuyến khích các bậc cha mẹ nên chọn cho con cái mình tên của những vị Thánh, vì quyền năng và sự thánh thiện của các ngài. Nhờ đó, những đứa trẻ có thể xem các Ngài như là hình mẫu để noi gương, bắt chước đời sống nhân lành của các ngài và cũng để nhờ Ngài nâng đỡ, che chở và cầu bầu cho mình trước Thiên Chúa.
 
Đến thời Công đồng Tridentino họp năm 1563, Giáo hội Công giáo buộc giáo dân khi đặt tên phải chọn tên Thánh. Công đồng này lưu ý các linh mục khi cử hành bí tích rửa tội nếu gặp trường hợp ai đó cố tình đặt tên không hợp tinh thần Kitô giáo thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên Thánh khác, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổ rửa tội của giáo xứ.
Đến bộ Giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công đồng Tridentino buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh.
 
 
Nhưng đến năm 1972, vì thấy việc đặt tên Thánh có thể hạn chế cho tiến trình hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ luật buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh.
Do vậy, đến bộ Giáo luật năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô giáo. Điều 855 của bộ Giáo luật 1983 quy định: Cha mẹ, người đỡ đầu và cha sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô giáo.
 
 
Tuy nhiên, tập tục đặt tên Thánh vẫn duy trì và không bị suy suyển tại các nơi tuân giữ lề luật truyền thống. Các tên này thường được cha mẹ của trẻ sơ sinh hoặc tự thân người nhận nghi thức (nếu trưởng thành) chọn theo tên các vị Thánh nổi tiếng của giáo hội, nam theo Thánh nam và nữ theo Thánh nữ, cá biệt có trường hợp chọn cả tên Thánh nam và nữ. Việc chọn tên Thánh theo vị Thánh nào thì họ tin rằng sẽ nhận được sự hướng dẫn và trợ giúp của Thánh đó trong đời sống, và họ sẽ mừng lễ Thánh quan thầy (hoặc thánh bổn mạng) theo ngày lễ kính của Thánh đó. Đối với các tín hữu, lễ kính Thánh quan thầy cũng trọng như ngày sinh nhật.
Trong từ điển bách khoa Công giáo, cho rằng tục lệ đặt tên Thánh bắt nguồn từ quan niệm tình trạng con người được thay đổi. Nhận lãnh bí tích rửa tội từ con người tội lỗi biến đổi sang con người mới. Do vậy, nhận tên Thánh là chứng tích biến đổi về mặt tâm linh. Trường hợp cụ thể là vị tông đồ Paul của Kitô giáo, sống vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên, trước đây có tên là Saul, khi cải đạo sang Kitô giáo thì ông đổi tên là Paul mà người Công giáo Việt Nam gọi là Thánh Phaolô.
 
 
Cho đến tận ngày nay, tại các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhiều người vẫn coi tên Thánh của mình cũng chính là tên gọi thông thường để xưng hô, còn tên họ là để phân biệt gia tộc. Ví dụ, Giáo hoàng Biển Đức XVI có tên thế tục là Joseph Ratzinger, bản thân tên Joseph đã thể hiện tên thánh của ông là Thánh Giuse (Joseph theo tiếng Đức).
Người Công giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và các nước truyền giáo khác trên thế giới có thêm tên Thánh mà người Tây phương không có, là vì các giáo sĩ Tây phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên Thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở Tây phương.
 
 
Đọc tiểu sử của hàng giáo phẩm Công giáo Tây phương sẽ thấy điều này, không có vị nào có hẳn một tên Thánh riêng như kiểu tên người Công giáo Việt Nam. Trong khi Đức cha tổng giáo phận Hà Nội Giuse Vũ Văn Thiên có hẳn một tên Thánh là Giuse, thì Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI không có tên Thánh riêng. Tên ngài là Joseph Ratzinger. Joseph (Giuse) là tên riêng vừa là tên Thánh. Do đó người Công giáo Tây phương không có tục lệ mừng lễ Thánh quan thầy.
Dù có những thay đổi, nhưng việc đặt và chọn tên Thánh vẫn là một việc đặc biệt quan trọng của tín hữu vì đây chính là một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dẫn đến việc được đặt tên mới. Điều này phản ánh tính chất trang trọng của sự kiện đó. Khi một hài nhi được rửa tội, em trở thành con cái Thiên Chúa Cha, là đồng thừa kế Nước Trời qua Chúa Kitô và là người được thông phần trong ân sủng của Chúa Thánh Thần.
 
Bài: Sưu tầm & biên tập
BÀI ĐĂNG
TAGS
Tên Thánh
Tên Thánh (hoặc tên rửa tội hoặc Thánh bổn mạng) là tên của mỗi cá nhân chọn khi nhận nghi thức rửa tội (Thanh Tẩy) trong một số giáo hội Kitô giáo. Tập tục này bắt nguồn từ Pháp và Đức trong thời Trung Cổ.
 
 
Theo truyền thống của người Do Thái, người ta sẽ đặt tên cho trẻ sơ sinh trong nghi lễ Thánh hiến tại hội đường (và cắt bì đối với trẻ sơ sinh nam) vào ngày thứ tám sau khi sinh (Lc 01:59). Kitô giáo kế thừa hoặc dựa theo tập tục này để đặt tên mới khi một ai đó nhận phép rửa tội vì họ quan niệm rằng sau khi rửa tội thì sẽ trở thành một con người mới nên cần có tên mới.
Với Kitô giáo, chúng ta thấy có một sự tiến triển theo dòng lịch sử. Trước hết, ngay từ thế kỷ thứ III, Ông Dionysius thành Alexandria (khoảng năm 260) đã nhận thấy, có rất nhiều người cùng tên với tông đồ Gioan. Ông yêu mến vị tông đồ này và ước mong được yêu Chúa như Thánh Gioan. Ngoài ra ông cũng nhận thấy nhiều trẻ em được đặt tên như là Phêrô hoăc Phaolô để tôn vinh và bắt chước hai vị tông đồ vĩ đại này. Bên cạnh đó, vào thời Giáo hội Sơ khai người Kitô hữu có tục lệ lấy tên Thánh làm tên riêng.
Do vậy, măm 325, Công đồng Nicaea quyết định cấm tín hữu dùng tên các thần thánh không phải của Kitô giáo để đặt tên cho mình.
 
 
Đến thế kỷ thứ IV, Thánh Gioan Kim Khẩu (Gioan Kim Khẩu là Tổng giám mục thành Constantinopolis, ông nổi tiếng bởi tài hùng biện trong thuyết giáo và diễn thuyết) khuyến khích các bậc cha mẹ nên chọn cho con cái mình tên của những vị Thánh, vì quyền năng và sự thánh thiện của các ngài. Nhờ đó, những đứa trẻ có thể xem các Ngài như là hình mẫu để noi gương, bắt chước đời sống nhân lành của các ngài và cũng để nhờ Ngài nâng đỡ, che chở và cầu bầu cho mình trước Thiên Chúa.
 
Đến thời Công đồng Tridentino họp năm 1563, Giáo hội Công giáo buộc giáo dân khi đặt tên phải chọn tên Thánh. Công đồng này lưu ý các linh mục khi cử hành bí tích rửa tội nếu gặp trường hợp ai đó cố tình đặt tên không hợp tinh thần Kitô giáo thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên Thánh khác, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổ rửa tội của giáo xứ.
Đến bộ Giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công đồng Tridentino buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh.
 
 
Nhưng đến năm 1972, vì thấy việc đặt tên Thánh có thể hạn chế cho tiến trình hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ luật buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh.
Do vậy, đến bộ Giáo luật năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc người Công giáo phải lấy tên Thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô giáo. Điều 855 của bộ Giáo luật 1983 quy định: Cha mẹ, người đỡ đầu và cha sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô giáo.
 
 
Tuy nhiên, tập tục đặt tên Thánh vẫn duy trì và không bị suy suyển tại các nơi tuân giữ lề luật truyền thống. Các tên này thường được cha mẹ của trẻ sơ sinh hoặc tự thân người nhận nghi thức (nếu trưởng thành) chọn theo tên các vị Thánh nổi tiếng của giáo hội, nam theo Thánh nam và nữ theo Thánh nữ, cá biệt có trường hợp chọn cả tên Thánh nam và nữ. Việc chọn tên Thánh theo vị Thánh nào thì họ tin rằng sẽ nhận được sự hướng dẫn và trợ giúp của Thánh đó trong đời sống, và họ sẽ mừng lễ Thánh quan thầy (hoặc thánh bổn mạng) theo ngày lễ kính của Thánh đó. Đối với các tín hữu, lễ kính Thánh quan thầy cũng trọng như ngày sinh nhật.
Trong từ điển bách khoa Công giáo, cho rằng tục lệ đặt tên Thánh bắt nguồn từ quan niệm tình trạng con người được thay đổi. Nhận lãnh bí tích rửa tội từ con người tội lỗi biến đổi sang con người mới. Do vậy, nhận tên Thánh là chứng tích biến đổi về mặt tâm linh. Trường hợp cụ thể là vị tông đồ Paul của Kitô giáo, sống vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên, trước đây có tên là Saul, khi cải đạo sang Kitô giáo thì ông đổi tên là Paul mà người Công giáo Việt Nam gọi là Thánh Phaolô.
 
 
Cho đến tận ngày nay, tại các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhiều người vẫn coi tên Thánh của mình cũng chính là tên gọi thông thường để xưng hô, còn tên họ là để phân biệt gia tộc. Ví dụ, Giáo hoàng Biển Đức XVI có tên thế tục là Joseph Ratzinger, bản thân tên Joseph đã thể hiện tên thánh của ông là Thánh Giuse (Joseph theo tiếng Đức).
Người Công giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và các nước truyền giáo khác trên thế giới có thêm tên Thánh mà người Tây phương không có, là vì các giáo sĩ Tây phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên Thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở Tây phương.
 
 
Đọc tiểu sử của hàng giáo phẩm Công giáo Tây phương sẽ thấy điều này, không có vị nào có hẳn một tên Thánh riêng như kiểu tên người Công giáo Việt Nam. Trong khi Đức cha tổng giáo phận Hà Nội Giuse Vũ Văn Thiên có hẳn một tên Thánh là Giuse, thì Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI không có tên Thánh riêng. Tên ngài là Joseph Ratzinger. Joseph (Giuse) là tên riêng vừa là tên Thánh. Do đó người Công giáo Tây phương không có tục lệ mừng lễ Thánh quan thầy.
Dù có những thay đổi, nhưng việc đặt và chọn tên Thánh vẫn là một việc đặc biệt quan trọng của tín hữu vì đây chính là một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dẫn đến việc được đặt tên mới. Điều này phản ánh tính chất trang trọng của sự kiện đó. Khi một hài nhi được rửa tội, em trở thành con cái Thiên Chúa Cha, là đồng thừa kế Nước Trời qua Chúa Kitô và là người được thông phần trong ân sủng của Chúa Thánh Thần.
 
Bài: Sưu tầm & biên tập